Khái Lược Về Sự Phát Triển Luật Học ở Trung Hoa
Bạch Chính Mai tác giả, Thích Nhất Chân dịch
(tiếp theo và hết)
 

Đạo Tuyên ở vào thời đại lúc tăng đồ đã từ từ sai lạc, không biết chính pháp, chẳng rõ giáo lý, không tuân Tăng chế, khinh phép phạm giới, không chỉ đưa lại sự cười chê của thế nhân, còn tạo thành sự không tín nhiệm phổ biến trong quần chúng xã hội đối với Phật giáo. Trong Tứ Phần Luật Hành Sự Sao ngài có chỉ ra :

"Thời nay các tăng ni thông tục phần nhiều không tôn phụng Phật pháp, đều ngu giáo cương, trong không chính tín, thấy không cao xa, đến mức sai sót cả đại tiết. Hoặc ở ngay trước hình tượng [Phật] đùa dỡn với nhau, buông lời phi pháp, đưa mắt vung tay toàn ngược thánh nghi, hoặc khi ngồi thì ngạo nghễ chẳng biết kiêng dè, tuy thấy kinh tượng cũng không đứng dậy nghinh phụng, đến nỗi tục nhân phải khinh cười, tổn diệt mất chính pháp."

Đó là những điều khiến Đạo Tuyên phải đau lòng nhức đầu, cũng là động cơ trực tiếp nhất làm ngài phấn chí hoằng Luật. Cho nên theo như trong Quan Trung Sáng Lập Giới Đàn Đồ Kinh Tự chúng ta thấy ra Đạo Tuyên không chỉ tiếp thọ sự giáo đạo về Luật học chính thống của Huệ Quân và Trí Thủ, mà còn đều đặn lặn lội sơn xuyên, viễn hành bốn phương để tham học rộng rãi. Ngài tự xưng là "ông thầy vô thường, ruổi ngàn dặm như gang tấc; chỉ lo cho Pháp, vượt quan hà như cọng lau; chu du Tấn Ngụy, duyệt đọc chất chứa do tìm học, quá bộ Giang Hoài, duyên kết tỏ tường để nghe đạo. Mãi đến lập niên (tức 30 tuổi) mới tìm đến bút mực, luật nghi bao điều trọng yếu, hành sự đủ loại suy cầu, "đồ, truyện" ngỏ với thời tâm, "sao, sớ" khai kẻ hữu thức; hoặc chú hoặc giải, dẫn dụng dựa nơi kinh xưa; hoặc dìm hoặc nâng, chuyên môn đó là nghiệp vụ."

Ngài, trước năm 30 tuổi, chỉ nhằm lo chuyện học rộng, sau 30 tuổi, mới theo đuổi công việc trước thuật...

3. Các Trước Tác về Luật Học của Đạo Tuyên

Năm thứ 7 Vũ Đức (624) chùa Nhật Nghiêm ở Trường An bị phế hủy, Đạo Tuyên theo Huệ Quân chuyển về chùa mới xây là Sùng Nghĩa Tự. Cũng năm ấy ngài lại về núi Chung Nam, trú ngụ tại hang Phỏng Chưởng tu tập định huệ, lúc ấy bỗng có nguồn nước trong vọt lên, nhân đó mới gọi là chùa Bạch Tuyền. Ngài ở trên núi chải chuốt lại những tâm đắc về Luật học trong bao năm nay, vào tháng 6 năm thứ 9 Vũ Đức (626) soạn xong Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao gồm 3 quyển (nay thành 12 quyển), đối Tứ Phần Luật tiến hành việc chỉnh lý quy nạp đánh dấu một thời đại, xiển dương lên kiến giải khai tông cho Luật học của mình. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao sao tập lại các giáo điển làm căn cứ cho Tỳ Khưu y Luật hành sự, chủ yếu lấy Tứ Phần Luật tạng làm cơ sở, lấy văn tự trong Tam tạng, các soạn thuật của thánh hiền, các chương sớ của cổ đức làm bổ sung, phân làm 30 thiên trình bày các loại hành pháp sự tướng để tự tu nhiếp tăng thuộc về Luật tạng, thành một trước tác có oai quyền nhất của Luật tông Trung Hoa.

Vào đầu bộ sách này là lời tựa của chính tác giả, bài tựa trước hết nói chung về động cơ viết nên bộ sách ấy. Tác giả cho rằng xưa nay các bộ sách giải thích về Luật, soạn sớ thì chỉ luận phế lập, viết sao thì chỉ trình vấn nạn, đều không đủ để làm chỉ đạo cho một tân học về thực tế hành sự. Nhân thế nên "gom mọi phế hưng của giáo lý, khảo hết thực hư của mọi thuyết", lấy việc "mở lớp nghi, trừ thường lụy, gom bộ chấp, tuyên hành tướng" làm tông chỉ, chú trọng hội thông các bộ Luật, giải quyết nghi nan, tiện cho hành sự, nên đề tựa là "Hành Sự Sao". Đem những gì cùng loại trong văn Luật ra mà quy nạp lại, nội dung thành "trước sau giao chiếu, ẩn hiện cùng lộ". Tận lực dùng văn tự cho giản lược để nêu lên cương yếu mà đáp ứng cho nhu cầu thực dụng.

Tựa đề của bộ sách bao đầu bởi bốn chữ "San Phồn Bổ Khuyết", như trong phần lời tựa của chính tác giả có nói, "san phồn" chủ yếu là san đi các tình kiến phồn quảng của các chú gia trong quá khứ, "bổ khuyết" là bổ sung các chú gia, và cũng bổ sung luôn cả Tứ Phần Luật tạng đối với các vấn đề chưa được giải quyết. Nghĩa là đem nội dung của Tứ Phần Luật tạng gồm 2 bộ giới và 20 kiền độ đề cương thành các sự loại, rồi quy nạp sắp xếp, chỉ cần văn tự trong 3 quyển mà khái nhiếp mọi sự tướng của các hành pháp trong trọn 60 quyển của Tứ Phần Luật tạng, còn bổ sung biết là bao khuyết lậu, củ chính biết là bao sai lầm, phát hiện ra và giải quyết được rất nhiều vấn đề mà người đi trước chưa chú ý tới, chưa giải quyết được. Bộ sách này vốn đặt trên cơ sở của sự nghiên cứu mà các luật sư trước thời ngài Pháp Lệ đã hoàn thành, bỏ chỗ dở chọn cái hay tích tập mà đại thành. Bộ sách vừa xuất hiện, tăng giới đều chú mục đến, các sao sớ của các chư gia về trước đều từ từ bị đào thải, hiện tại phần lớn đã thất truyền.

Trinh Quán nguyên niên (627), Đạo Tuyên soạn chế Tứ Phần Luật Thập Tỳ Ni Nghĩa Sao gồm 3 quyển (nay thành 6 quyển), sách này được trước tác để giải thích bổ sung cho Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao. Hiện còn 4 quyển thượng và trung, 2 quyển thuộc hạ thiên đến đời Tống là thất lạc mất truyền. Từ quyển thượng đến quyển trung tổng cộng 14 đoạn như "tì ni đại cương", "khởi giới sai biệt" v.v...

Trinh Quán tứ niên (630), Đạo Tuyên ngoại xuất tham học các nơi, tìm khắp các dị truyền trong Luật, từng tại Ngụy quận phỏng vấn bậc danh đức Pháp Lệ luật sư, xin giải quyết các nghi trệ. Năm thứ 9 (635) vào núi Miên Thượng ở Bí Bộ (nay là trấn Miên Thượng thuộc huyện Bí tỉnh Sơn Tây) soạn Tứ Phần Luật San Bổ Tùy Cơ Yết Ma 1 quyển, Tứ Phần Luật San Bổ Tùy Cơ Yết Ma Sớ 2 quyển, bộ sớ này giải thích các lý lẽ trọng yếu về trì giới, nội dung chi tiết phân làm 10 thiên. Trước khi vào sớ xiển rõ lên các vấn đề "năng biện chi giáo" (tức giáo pháp để giải quyết các Tăng sự, gọi là Yết ma), "sở bị chi sự" (tức các vấn đề Tăng sự, nghĩa là duyên vụ), "hoằng pháp chi nhân" (người hoằng pháp, tức tăng già), "thiết giáo chi sở" (nơi để thi hành Tăng sự, tức kết giới). Kế đến gồm 10 thiên giải thích tường tận về (1) tập pháp duyên thành, (2) chư giới kết giải, (3) chư giới thọ pháp, (4) y dược thọ tịnh, (5) chư thuyết giới pháp, (6) chư chúng an cư, (7) tự tứ pháp, (8) y phân pháp, (9) sám lục tụ pháp, (10) tạp pháp trụ trì.

Sau đó Đạo Tuyên lại soạn Tứ Phần Luật Tỳ Khưu Hàm chú Giới Bổn 1 quyển, Tứ Phần Luật Tỳ Khưu Hàm Chú Giới Bổn Sớ 3 quyển (sau trùng đính lại "Giới Bổn" thành 3 quyển, và "Sớ" thành 8 quyển). Trong Hàm Chú Giới Bổn, ngài y theo quảng luật mà ra sức chú giải Tứ Phần Luật Giới Bổn, sách này sắp thành 4 môn : thuật giáo nghĩa chi sở do (nói về lý do thuyết giáo), (2) nhiếp giáo chi phân tề (phân biệt về giáo nhiếp), (3) danh nghĩa chi giải thích (giải thích về danh nghĩa), (4) đề hiệu chi giải thích (giải thích về tựa đề).

Năm thứ 11 (637), tại Ích Ti cốc ở Thấp Châu (nay là huyện Thấp tỉnh Sơn Tây) soạn Lượng Xứ Khinh Trọng Nghi (còn gọi là Thích Môn Vong Vật Khinh Trọng Nghi) 2 quyển, Ni Chú Giới Bổn 1 quyển. Năm thứ 16 (642), lại quay về núi Chung Nam chùa Phong Đức, đến năm thứ 19 (646) soạn thành Tứ Phần Luật Tỳ Khưu Ni Sao 3 quyển (nay là 6 quyển). Năm thứ 20 (646) tại chùa Phong Đức đem 1 quyển Yết Ma đã soạn tăng thêm thành 2 quyển, lại tăng Sớ 2 quyển thành ra 4 quyển (nay phân làm 8 quyển). Tháng 9 Vĩnh Huy nhị niên (651) lại tăng đính Hàm Chú Giới Bổn cùng Sớ. Học giả đời sau đem các bộ Tứ Phần Luật Hàm Chú Giới Bổn Sớ, Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao, Tứ Phần Luật San Bổ Tùy Cơ Yết Ma Sớ, Tứ Phần Luật Thập Tì Ni Nghĩa Sao, Tứ Phần Luật Tỳ Khưu Ni Sao của ngài hợp lại gọi là "ngũ đại bộ" của Tứ Phần Luật Tông.

4. Quan Điểm về Luật Học của Đạo Tuyên

Thành quả chính yếu của tổ Đạo Tuyên về phương diện Luật học chính ở chỗ ngài khai tông hoằng hóa Tứ Phần Luật, cùng với học lực bình sinh của ngài, tổng lãm hết các bộ, hội thông đại tiểu [thừa] mà thành nên một sáng kiến đại biểu cho cả một "gia" [phái.] Ngài đối với việc chỉnh lý Luật học, thời lấy Tứ Phần làm gốc, chọn lọc các văn bản của mọi người, mà tập thành kinh điển của riêng một nhà, đối với các chỗ có nghĩa mà không văn chứng trong Tứ Phần thời tham khảo các Luật khác, và tối hậu lấy Đại Thừa làm chỗ cùng cực quy về, để thuận theo cơ duyên đại thừa của Trung thổ. Ngài có nói trong Hành Sự Sao Tự như sau : "Gom giới văn các dị bộ, tóm tùy thuyết các chúng kinh, cùng di giáo của hiền thánh Tây thổ, văn ký của tiên đức xứ này, sưu khảo đồng dị, hạch xét đến cùng; ý hay thời chép để biết rộng thêm, nói lạm thời xén cho thành thông chung." Cái học phong tổng lãm các thuyết để thành phát ngôn cho riêng một nhà này của Đạo Tuyên từng được giới học Phật đương thời khắp nơi kính trọng. Học thuyết của ngài lẫy lừng trong giáo giới, đến mức các luật học gia của Trung thổ từ thời ấy trở đi, gần như hầu hết đều lấy các trước thuật của ngài ra mà tôn làm khuôn thước. Như Tống Cao Tăng Truyện quyển 16 có nói : "Do đó, từ nói năng cho đến hành sự gì trong thiên hạ cũng đều lấy Nam Sơn làm chỉ nam vậy."

Đạo Tuyên lấy Tứ Phần Luật để hội thông với Đại Thừa, tại Hành Sự Sao phần 3 quyển thượng, ngài minh xác chủ trương "Tứ Phần Luật nghĩa đương Đại Thừa" (về mặt giáo nghĩa Tứ Phần Luật tương đương với Đại Thừa). Phần 4 quyển trung cũng cùng sách ấy nói "trọn một tông Tứ Phần Luật là Đại Thừa." Lại tìm ra trong Yết Ma Sớ năm lý do để chứng minh cho thuyết này. Thứ nhất là "Đạp Bà hồi tâm", điều này trong lúc giải thích đoạn văn của Luật nói về "tăng tàn", bàn đến giới vô căn báng, Đạp Bà tỳ khưu sau khi đắc quả La Hán, chợt sinh khởi tâm tưởng chán bỏ thân vô thường này, muốn tu hạnh lợi tha, cầu tìm pháp kiên cố. Điều này có thể nói là một thuyết minh hay nhất về ý nghĩa "hồi tâm hướng Đại". Thứ hai là "thí sinh thành Phật", trong đoạn văn hồi hướng của Giới Bổn có hai câu "thí tất cả chúng sinh, đều cộng thành Phật đạo," chính tức thuộc về viên đốn liễu nghĩa của Đại Thừa, cùng với Hoa Nghiêm Kinh, Pháp Hoa Kinh, ý nghĩa tương thông. Thứ ba là "tương triệu Phật tử", trong lời tựa của Luật mấy phen lập lại rằng "như thế chư Phật tử", "Phật tử cũng như vậy", cách xưng hô "Phật tử" này ý nghĩa tương đồng với lối xưng Phật tử trong Phạm Võng giới của Đại Thừa. Thứ tư là "xả tài dụng khinh", trong phần giải thích về giới "xả đọa" của Tứ Phần Luật, tội xả đọa mà muốn sám hối, thì trước phải xả tài, [khi xả rồi] nếu Tăng dùng [vật ấy] không trả lại, thì [Tăng] chỉ phạm tội nhẹ đột cát la thôi [vì không có tâm trộm cắp,] như vậy là tương thông với giới của Đại Thừa, tức dùng ý nghiệp để phân phán [tội] nặng nhẹ. Thứ năm là "thức liễu trần cảnh", như giới tiểu vọng ngữ trong Tứ Phần Luật, khi giải thích về thấy, nghe, xúc, biết, đều nói rõ là do nhãn thức mà thấy, do nhĩ thức mà nghe v.v... [chứ không phải do nơi căn mà thấy nghe được.] Lấy thức làm liễu nghĩa như thế là cùng với nghĩa lý của Đại Thừa tương thông. Do 5 nghĩa ấy tức cho rằng Tứ Phần Luật hội thông với Đại Thừa. Đạo Tuyên luật sư lại từ quan điểm Tứ Phần thông với Đại Thừa này, tiến thêm bước nữa kiến lập thuyết "tam học viên dung vô ngại". Tức có nghĩa là hai thừa đại tiểu mỗi bên đều lập tam học, và lấy tam tụ tịnh giới của đại thừa Phật giáo làm nơi quy túc cho Luật học. Như giới không sát sinh chẳng hạn, đều có đủ trọn 3 tụ : ngưng dứt mọi thứ duyên sát là nhiếp luật nghi giới, luôn luôn thực hành sự bảo hộ sinh mạng là nhiếp thiện pháp giới, bảo hộ sinh mạng của chúng sinh là nhiếp chúng sinh giới. Giới không sát sinh đã vậy, thì các giới không trộm, không dâm v.v... cho đến vô lượng giới phẩm khác cũng đều như vậy. Cho nên mỗi giới mỗi hành đều quán và giải viên dung, chứa trọn đủ tất cả hành khác, như thế thành ra là diệu hành của Đại Thừa vậy. Cách lý giải cũng như giải thích này phù hợp với sự mong đợi mà các kẻ học tại Trung thổ hằng ấp ủ đối với đại thừa Phật giáo, chính thế nên nền Luật học Nam Sơn do ngài xướng đạo mới một mạch thịnh hành lưu truyền.

5. Giới Thể Thuyết : Bốn Khoa Giới Học

Học thuyết về giới thể là lý luận chủ yếu của Luật Tông Nam Sơn của tổ Đạo Tuyên. Căn cứ các trước thuật như Hành Sự Sao v.v... thời tất cả giới phẩm đều bao hàm trong 4 khoa là giới pháp, giới thể, giới hành, giới tướng. (1) Giới pháp là mọi thứ giới luật mà Phật đã chế định; (2) giới thể là cái vẫn gọi là pháp thể được phát sinh ra từ chính tâm lãnh thọ của người đệ tử khi nương theo thầy thọ giới, tức do cách tác pháp truyền thọ [cho nhau,] mà làm cho nơi tâm lý của người thọ giới hình thành được [một năng lực] công đức và mong muốn phòng phi chỉ ác (phòng những điều quấy, ngưng các điều ác); (3) giới hành là hành vi đúng như pháp sau khi thọ giới tùy thuận theo giới thể mà phòng chỉ mọi tội ác của 3 nghiệp thân khẩu ý; (4) giới tướng là hình tướng do [bên trong] tuân thủ giới pháp, [bên ngoài] giới hành cẩn nghiêm, mà biểu hiện ra ngoài đáng được coi là mẫu mực. Trong 4 khoa này, giới thể là điều kiện căn bản, còn 3 khoa kia là điều kiện phụ trợ cho tất cả mọi giới.

Y cứ nơi giới pháp, tức các loại giới luật do Phật chế lập, người thọ giới ở ngay bên trong bản thân mình đắc được giới thể [vốn là] nghiệp vô biểu, tùy thuận theo giới thể mà biểu hiện ra nơi 3 nghiệp thân khẩu ý (2 nghiệp thân khẩu là các hành vi ngoại biểu, gọi là biểu nghiệp; còn hành vi của ý thì gọi là vô biểu nghiệp), duyên cho giới hành đã được thành lập, do đó mà biểu hiện ra các mỹ đức, oai nghi, trang nghiêm, thì chính đó là sự thành tựu của giới tướng. Trì giới phải đủ trọn 4 khoa này mới là hoàn mãn. Nam Sơn luật tông dùng viên nghĩa (tức giáo nghĩa viên dung) của Phật giáo đại thừa để hội thông với Tứ Phần Luật, lấy chủng tử chứa trong A lại gia thức (thức thứ 8) làm giới thể, được gọi là "tâm pháp giới thể".

Phán Giáo : Hóa và Chế Giáo

Đạo Truyên luật sư không phải chỉ tinh nghiêm tì ni, thông đạt luật tạng, mà còn tham dự vào dịch trường của Huyền Trang nữa, đối với giáo nghĩa của pháp tướng rất có tâm đắc, nên dùng giáo nghĩa của pháp tướng đem trọn hết các giáo giới của Phật Đà ra mà phân phán thành 2 giáo là hóa và chế (còn gọi là hành nữa). Hành Sự Sao quyển thượng có nói : "Một là hoá giáo, giáo này chung cho cả đạo, tục, chỉ nói rộng về nhân quả, thấu tỏ về tà chính, [khi] phân loại các hành nghiệp, thời trầm mật và khó hiểu, [khi] hiển rõ quả báo, thời tỏ rõ và dễ bày. Thứ hai là hành giáo, chỉ dành cho nội chúng (tức các người xuất gia), định rõ mọi thủ, xả, lập thành lối kỷ cương, hiển bày trì và phạm, giải quyết các nghi trệ... Nghĩa là nội tâm nghịch hay thuận, dựa theo lý làm tông [mà xét,] thì đó là chuẩn theo hóa giáo; còn hành vi tác dụng bên ngoài, ắt phải giữ gìn thân khẩu, thời phải y theo hành giáo." Tức gom hết các kinh luận đại tiểu thừa thuộc phương diện giáo lý lại gọi là hóa giáo, và thu hết các điển tịch giới luật thuộc phương diện Như lai giáo giới chúng sinh và đối với các hành vi của họ ra công chế ngự lại mà gọi là chế giáo.

Ba Loại Hóa giáo

Đạo Tuyên lấy "tâm thức giới thể" làm chỗ căn cứ, đem hóa giáo ra phân thành 3 loại là tính không giáo, tướng không giáo, duy thức viên giáo. Như Hành Sự Sao nói : "Một là chư pháp tính không, vô ngã, [dùng] lý ấy mà chiếu tâm, thì gọi là Tiểu thừa; hai là chư pháp bổn tướng [tự] là không, [dùng] lý ấy mà chếu dụng, thì gọi là tiểu Bồ Tát; ba là chư pháp ngoại trần vốn không có, chỉ duy thức thực có, lý này thâm diệu, chỉ dùng ý duyên để biết, là Phật quả hành chứng của đại Bồ Tát." Trong 3 giáo ấy, loại thứ nhất là pháp thực hành của bậc Tiểu Thừa, quán các sự tướng sinh diệt, thuộc tính không giáo. Loại thứ hai thuộc tiểu Bồ Tát thực hành, quán các sự tướng là không, thuộc tướng không giáo. Loại thứ ba do đại Bồ Tát thực hành, quán các sự tướng là tâm, do ý ngôn phân biệt [mà hiện,] là duy thức viên giáo.

Ba Tông Chế Giáo

Và đem chế giáo ra phân thành 3 tông là thực pháp tông, giả danh tông, viên giáo tông. Tính không giáo, thực pháp tông và giả danh tông nhiếp trọn hết giáo lý của Tiểu Thừa. Tướng không giáo là giáo pháp chủ trương rằng quán sát thẳng ngay nơi đương thể của chư pháp [tức chính là] chân không vô tướng, nhiếp trọn hết Đại Thừa bát nhã. Duy thức viên giáo là nói cho giáo pháp quán sát chư pháp ngoại trần vốn không có, chỉ duy có thức tâm, tính tướng viên dung, thống nhiếp hết các thuyết Đại Thừa thuộc Hoa Nghiêm, Lăng Già, Pháp Hoa, Niết Bàn.

Trong 3 tông thuộc chế giáo, thì thực pháp tông, tức Tát Bà Đa các bộ, lập tất cả các pháp là thực có, tông này nhận "sắc pháp" là giới thể. Giả danh tông chính là Kinh Lượng các bộ, lập tất cả các pháp chỉ có giả danh thôi, tông này cho giới thể là loại pháp "chẳng phải sắc chẳng phải tâm". Viên giáo tông tức Viên Giáo duy thức các phái, lập tất cả các pháp chỉ duy có thức, tông này lấy chủng tử thuộc tâm pháp làm giới thể. Nam Sơn luật tông trong 3 giáo và 3 tông là thuộc về tông Viên Giáo duy thức.

6. Các tác phẩm về sử địa học Phật Giáo

Sự cống hiến của tổ Đạo Tuyên về mặt sử học Phật giáo cũng rất là to tát. Ngài vào năm thứ 19 Trinh Quán (645) soạn xong Tục Cao Tăng Truyện gồm 30 quyển. Cũng năm ấy đến chùa Hoằng Phúc tham gia dịch kinh cùng khảo chứng về địa dư của Tây Vực, vào đầu năm Vĩnh Huy (651) soạn thành Thích Ca Phương Chí 2 quyển. Năm thứ 5 Hiển Khánh (660) soạn thành Phật Hóa Đông Tiệm Đồ Tán 1 quyển (nay không còn). Vào lúc ấy Phật và Đạo giáo hai bên luận tranh rất kịch liệt, ngài vào năm đầu Long Sóc (661) soạn thành Cổ Kim Phật Đạo Luận Hành 3 quyển, đầu năm Lân Đức (664) lại soạn thành 1 quyển nữa, hợp thành 4 quyển. Cũng năm ấy lại soạn thành Đại Đường Nội Điển Lục 10 quyển, Quảng Hoằng Minh Tập 30 quyển và Tập Thần Châu Tam Bảo Hàm Thông Lục (tên khác là Đông Hạ Tam Bảo Hàm Thông Ký) 3 quyển. Lại vào năm thứ 2 Lân Đức soạn thành Thích Ca Thị Phổ (tên khác là Thích Ca Lược Phổ) 1 quyển. Trong các bộ ấy, Tục Cao Tăng Truyện, Thích Ca Phương Chí, Tập Cổ Kim Phật Đạo Luận Hành, Đại Đường Nội Điển Lục và Quảng Hoằng Minh Tập đều là các danh trước cần phải đọc nếu muốn nghiên học về sử Phật giáo. Trí Thăng thời Đường tại Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 8 ca ngợi ngài "ngoài thông chín lưu, trong tinh ba học, hương giới ngào ngạt, nước thủy lắng trong, giữ thành hộ pháp, trước thuật không ngừng."

Đạo Tuyên sinh bình "ba y vải thô, một bữa đỗ đậu, đi thì gậy chống, ngồi không tựa giường," ngài tinh trì giới luật nổi tiếng và truyền xa đến tận Tây Vực. (Ngày mùng 3 tháng 10 năm Càn Phong thứ 2 thị tịch, thọ 72 tuổi, tăng lạp là 52. Đường Cao Tông chiếu lệnh các tự viện trong nước họa vẽ chân dung của ngài để phụng thờ, nhà điêu khắc nổi tiếng Hàn Bá Thông còn đắp tượng ngài, để truy niệm cái khuôn phạm ngài để lại. Nhân Đạo Tuyên trường kỳ cư trụ tại Chung Nam Sơn, và ở tại đây sáng lập nên các phạm trù luật học của ngài, người sau mới gọi nền luật học Tứ Phần Luật mà ngài hoằng truyền là Nam Sơn Tông, và tôn ngài là Nam Sơn Luật Sư./.