| Khái Lược Về Sự Phát Triển Luật Học ở Trung Hoa |
| Bạch Chính Mai tác giả, Thích Nhất Chân dịch |
|
Theo Tăng sử ghi, trong khoảng hơn trăm năm thời kỳ Phật giáo mới truyền vào Trung thổ (Trung Quốc), tuy có Kinh điển truyền dịch, song chỉ thiếu có Luật điển. Mãi đến thời đại Tam Quốc khoảng các năm Gia Bình (249-253) triều Tào Ngụy, Luật học mới truyền vào Trung Quốc. Lương Cao Tăng Truyện ghi : "Đàm Kha Ca la, xứ này gọi là Pháp Thời, vốn người Trung Thiên Trúc, vào năm Gia Bình thời Ngụy đến Lạc Dương. Lúc ấy xứ Ngụy tuy đã có Phật pháp, song đạo phong sai lạc. Có các tăng chúng chưa nhận quy giới, mà chỉ lấy chỗ cạo tóc làm khác người tục vậy thôi, bày biện trai sám, hành pháp tế tự. Ca La đến rồi, đại hành Phật pháp. Thời chư Tăng hợp thỉnh Ca La dịch ra giới luật. Ca La do Luật Bộ phức chế, văn từ phồn tạp, Phật giáo chưa thịnh, rốt không đắc dụng, mới dịch ra "Tăng Kỳ Giới Tâm" chỉ bị dụng cho sớm chiều. Rồi lại thỉnh Phạn tăng, lập pháp yết ma. Giới luật Trung Hạ bắt đầu từ đó." Điều này cho thấy Đàm Kha Ca La khi nhìn hình tướng của tăng chúng Trung Quốc chỉ là cạo bỏ râu tóc cho có khác với người thế tục, song chưa bẩm thọ quy giới, các pháp sự thực hành thì chẳng khác gì dân gian tế tự, còn các ước thúc của giới luật thì miễn bàn. Thế nên mới dịch ra một quyển giới bổn "Tăng Kỳ Giới Tâm" để làm chỗ y cứ cho tăng chúng trì giới, lại thỉnh cầu Phạn tăng kiến lập pháp yết ma, đó chính là khởi thủy cho giới luật tại Trung Quốc. Vào khoảng các năm Chính Nguyên (254-255) sa môn Đàm Đế nước An Tức vùng Trung Á đến Lạc Dương, cũng giỏi về Luật sự. Tại chùa Bạch Mã dịch ra Thọ Giới Tác Pháp thuộc Đàm Vô Đức Bộ, có thể coi đó là điều báo trước cho Tứ Phần Luật Tông của Phật Giáo Trung Hoa. Phật Tổ Thống Ký quyển 35 ghi : "Hán Ngụy trở lại, hai chúng chỉ thọ tam quy, đại tăng và sa di chưa từng phân biệt. Đàm Ma Ca La mới thư lên cầu pháp thọ giới, cùng sa môn nước An Tức là Đàm Đế đồng tại Lạc Dương cho ra Tứ Phần Giới Bổn của Đàm Vô Đức Bộ, với pháp yết ma thọ giới mười người, sa môn Chu Sĩ Hàng là người thọ giới đầu tiên." Tứ Phần Giới Bổn dịch ra, cùng đúng tiêu chuẩn mười vị tăng truyền thọ giới pháp, đó là đầu nguồn của việc thập sư truyền giới tại Trung Quốc. Chu Sĩ Hàng thành ra người đầu tiên xuất gia y đúng theo giới pháp. Tăng đoàn Trung thổ tuy đã kiến lập được chế độ truyền giới, tăng nhân không còn chỉ "thế phát", "nhiễm y", song chân chính đối với giới luật Phật giáo mà tự giác truy căn, cũng như đáp ứng lại một cách có ý thức thì phải đến thời của pháp sư Đạo An (312-385) mới bắt đầu. Đạo An cho rằng cho dù đại pháp đã lưu truyền tới phương Đông, song Phật Giáo giới luật lại hết sức bất toàn, "Nói có 500 giới, mà không biết cớ gì lại không đến mức toàn vẹn được ? Đó mới là điều tối cấp bách." Tăng đoàn, sự nghiệp đã thành lập, song chế độ duy trì Tăng đoàn thì lại không hoàn bị, cho nên sự thành lập giới quy là vấn đề đương thời cấp bách nhất cần phải giải quyết. Kể cả việc Pháp Hiển sang Tây (Ấn độ) cầu pháp cũng là xét nơi Luật tạng còn tàn khuyết. Không có giới luật ước thúc, Tăng đoàn không thể tránh khỏi trường hợp bị người hiểu rõ giới luật phê bình. Như Kỳ Vực Truyện thuộc quyển 9 trong Cao Tăng Truyện ghi, Kỳ Vực là tăng nhân Ấn Độ vào năm cuối đời vua Tấn Huệ Đế (290-306) đến Lạc Dương, trông thấy chúng xuất gia bị ảnh hưởng của phồn hoa đô hội, y áo rất hoa lệ, mới có lời lẽ phê bình, cười chê chúng tăng rằng "y áo hoa lệ đâu đúng với pháp thanh bạch !" Tăng chúng thì bừa bãi lại hỗn tạp với thế tục cũng đem lại sự chú ý và bất an của tầng lớp thống trị. Như quyển 6 Cao Tăng truyện có ghi lại chiếu thư của Diêu Hưng ban xuống để chỉnh đốn Tăng đoàn như sau : "Đại Pháp dời sang Đông, đến nay đã thịnh, tăng ni đã nhiều, thì phải thuận cương lĩnh, phải truyền quy cũ xa xưa, để ngăn chặn mối suy đồi." Cái hình thái sinh hoạt thanh tịnh đúng như pháp mà Tăng đoàn cần phải trình hiện ra, cái phẩm cách tinh thần không cùng chung, vượt thoát khác hẳn đối với thế tục mà Tăng đoàn cần có đủ, đã là những gì mà tăng tục, vương quyền, dân chúng đều công nhận, đều mong đợi. Đạo An tại Nhượng Dương có được một Tăng đoàn gồm mấy trăm người, vì để hộ trì cho Tăng đoàn thanh tịnh, nên đem quy ước ra quy phạm tăng chúng, chế thành "Tăng Ni Qũy Phạm". Theo Cao Tăng Truyện ghi chép thì đó là "Hiến chương của Phật pháp, sắp xếp thành ba điều lệ : Một là pháp hành hương ấn định lên tòa giảng kinh; hai là pháp xướng báo thời gian ăn uống và sáu thời hành đạo mỗi ngày; ba là pháp bố tát, sai sứ, hối quá v.v..." Đại Tống Tăng Sử Lược của Tống Tán Ninh cũng có ghi rằng : "Tấn Đạo An pháp sư thương giới luật chưa được toàn, xót oai nghi lắm tàn khuyết, nên bổ vá khuyết tàn ấy, đắp chặn chỗ dò kia, lập ba lệ thành mệnh chương, khiến một thời đều sinh tín." Theo đó mà xét, thì Đạo An là vị thứ nhất y theo Luật để ấn định Tăng chế vậy. Tăng đoàn chế định xong giới quy, sự tu trì hàng ngày liền có được chỗ y chỉ. Người thiện hữu của Đạo An là Tập Tạc Xỉ trong bức thư cảm tạ Đạo An tán thán rằng : "Đến nơi đây gặp Thích Đạo An, quả là bậc đạo sĩ viễn thắng, phi thường, thầy trò mấy trăm vị, trai tịnh giảng đạo không biết mệt. Không kỹ thuật biến hóa chi hết để mê hoặc mắt tai người bình thường, không oai to thế lớn gì cả để chỉnh đốn thứ lớp nhóm chúng nhỏ; mà thầy trò đâu đó, tôn kính lẫn nhau, sum vầy chan chứa, quả là xưa nay chưa từng thấy." Với một Tăng đoàn to lớn mấy trăm người mà quản lý được đạo phong tề chỉnh, thực sự được thế là nhờ nơi giới pháp, đó là chỗ thành công của ngài Đạo An nơi mặt Luật chế. Nhân đó, Tăng chế này một phen xuất hiện, "thiên hạ chùa xá đều lấy đó làm khuôn mà noi theo". Đạo An đã khai mở ra ngọn nguồn đầu tiên cho việc y theo Luật pháp để riêng lập Tăng chế trong lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, đặt định xuống một dẫn ý cho việc sáng lập "thanh quy" của Thiền Tông sau này. Sau này, sau khi Đạo An đến Trường An, trừ ngoài việc lãnh đạo cả một đạo trường lớn đến mấy ngàn người thường xuyên thuyết giảng Phật pháp ra, việc tối chính yếu là tổ chức công tác phiên dịch. Việc truyền dịch các bộ Quảng Luật và Giới Kinh, Giới Luận của Ấn Độ cũng do sự ảnh hưởng của ngài mà khơi động dậy. Vị đại sư dịch kinh của cả một thời là Cưu Ma La Thập cũng chính do nơi tiến cử của ngài Đạo An mà được nghinh nhập vào Quan Trung (vùng Trung Nguyên, Trung quốc), thỉnh trụ nơi Tiêu Dao Viên tại Trường An. Nhờ đó, Luật tạng của Ấn Độ liền được cả một loạt các cao tăng phiên dịch ra và cứ thế lưu truyền đi.
1. Phật Điển Hoằng Truyền Luật điển ở Trung thổ được phiên dịch từ trước đến nay vẫn có thuyết 4 Luật và 5 Luận. Bốn Luật là Thập Tụng Luật, Tứ Phần Luật, Ma Ha Tăng Kỳ Luật, Ngũ Phần Luật, còn năm Luận là Tỳ Ni Mẫu Luận, Ma Đắc Lặc Già Luận, Thiện Kiến Luận, Tát Bà Đa Luận, Minh Liễu Luận. Các Luận trước tác để giải thích Luật điển rất nhiều, song Trung hoa chỉ truyền có năm bộ này. Thời gian phiên dịch các Quảng Luật trước sau xê xích không nhiều, ước chừng trong khoảng một trăm năm là toàn bộ đều dịch thành. Dưới đây chỉ trình bày khái quát về việc truyền dịch các Luật điển này. Thập Tụng Luật : Trong 5 bộ luật, bộ đầu tiên được Trung Quốc dịch ra là Thập Tụng Luật. Thập Tụng Luật là Quảng Luật của Tát Bà Đa Bộ. Năm Hoằng Thủy thứ sáu (404) thời Diêu Tần, Sa môn Phất Nhã Đa La chuyên tinh về Thập Tụng Luật đến Trường An, cùng với Cưu Ma La Thập tại Tiêu Dao Viên cộng dịch Thập Tụng Luật. Luật văn dịch chưa hoàn tất, thì Phất Nhã Đa La đã thệ thế. "Ai cũng cho rằng đại nghiệp chưa xong, mà bậc thầy trong nghề đã đi mất, xót xa lắm thay ! vượt hẳn các đớn đau thường tình !". Sau đó Đàm Ma Lưu Chi đem theo bản tiếng Phạn của Luật này đến Trường An, lại cùng La Thập cộng dịch, thành 58 quyển. Dịch văn còn chưa san cải chỉnh lý, thì La Thập lại qua đời. Sau đó lại có Tỳ Ma La Xoa đến Trường An, đem bản dịch kia ra hiệu đính lại, đổi bài tụng cuối cùng thành "Tỳ Ni Tụng", cùng dịch ra "Thập Tụng Luật Tỳ Ni Tự" để ra sau cùng hết, mới thành là 61 quyển. Đó chính là bộ Thập Tụng Luật hiện hành ngày nay. Do đó đủ biết việc dịch ra một bộ trước tác trên thực tế hàm chứa sinh mạng và tâm huyết của vô số người. Tứ Phần Luật : là Quảng Luật của Đàm Vô Đức Bộ. Từ năm thứ mười hai cho đến mười lăm niên hiệu Hoằng Thủy (410-413) do một vị rất thiện tụng về Luật của Đàm Vô Đức Bộ là Phật Đà Da Xá tụng ra Phạn văn, và Trúc Phật Niệm dịch ra văn Tần, đầu tiên thành 44 quyển, nay phân thêm thành 60 quyển. Tứ Phần Luật là bộ Luật điển quan trọng nhất trong Luật tạng Hán dịch, nhân vì đó chính là bộ điển tịch căn bổn để y cứ cho việc khai tông trong Luật Tông Trung Hoa, cũng nhân vì đó là bộ Luật điển được nghiên cứu nhiều nhất và hoằng truyền lâu đời nhất tại Trung Hoa. Tăng Kỳ Luật : là Quảng Luật của Đại Chúng Bộ, bản tiếng Phạn do Pháp Hiển từ Ấn Độ đem về. Từ năm 12 cho đến năm 14 niên hiệu Nghĩa Hy (416-418) Pháp Hiển tại Đạo Trường Tự cùng Phật Đà Bạt Đà La chung nhau dịch ra, thành 40 quyển. Bộ Luật này hoằng truyền không được rộng lớn như Thập Tụng Luật. Khoảng giữa thời kỳ Nam Bắc Triều, khi Tứ Phần Luật từ từ lưu hành ở Bắc phương, thì Tăng Kỳ Luật được chuyên hành suốt một dải Quan Trung. Sau này có Hồng Tuân luật sư vào Quan Trung ra sức đề xướng Tứ Phần Luật, thì Tăng Kỳ Luật từ từ suy yếu dần. Ngũ Phần luật : là Quảng Luật của Sa Di Tắc Bộ, bản Phạn cũng do Pháp Hiển từ Ấn Độ tìm về, chưa kịp phiên dịch, Pháp Hiển đã qua đời. Sau này do Phật Đà Thập tụng ra, Sa môn Trí Thắng nước Vu Điền dịch, Trúc Đạo Sinh và Huệ Nghiêm cũng tham gia vào dịch sự. Năm Cảnh Bình thứ hai (424) trào Lưu Tống dịch ra thành 30 quyển. Trong bốn bộ Quảng Luật, Ngũ Phần Luật được dịch ra sau cùng, do đó mà chưa thể được lưu bố thịnh truyền. Đạo Tuyên luật sư từng cảm khái thốt lên rằng : "Văn của cả bốn bộ, không bộ nào qua nổi bộ này, thật danh bất hư truyền, nên giờ vẫn được trọng. Chỉ có điều hoằng thông sao thưa lẻ, thật đáng thở than vậy !". Ở trên là bốn bộ luật mà trong Phật Giáo Sử Trung Hoa luôn đề cập đến, những gì làm người ta vô cùng chú trọng đến là từ năm thứ sáu Diêu Tần Hoằng Thủy (404) dịch Thập Tụng Luật, năm thứ mười hai (410) dịch Tứ Phần Luật, năm thứ mười hai Đông Tấn Nghĩa Hy (416) dịch Tăng Kỳ Luật, đến năm đầu Lưu Tống Cảnh Bình (423) dịch Ngũ Phần Luật, trong khoảng thời gian 20 năm ngắn ngủi, mà cả bốn bộ Quảng Luật ảnh hưởng suốt cả ngàn năm lịch sử Phật Giáo Trung Quốc đều được dịch ra trọn bộ hoàn chỉnh vô khuyết, quả thực khiến người ta phải ca ngợi, cũng khiến cho các học giả thời sau phải cảm khái trước sự thần kỳ của việc truyền bá văn hóa. Vào giai đoạn đầu, Phật Giáo không hề phải là một hệ thống học phái hoàn chỉnh hay chỉnh thể hữu cơ truyền nhập vào Trung Quốc. Đối Trung Quốc mà nói Phật Giáo hoàn toàn là một thứ văn hóa xa lạ, dị chất, đối với việc giải thích văn hóa này điều trước nhất phải là vấn đề ngôn ngữ, cũng chính là vấn đề phiên dịch Phật điển. Đương lúc Tăng đoàn của đất Hán đã có đủ quy mô, cái nhu cầu đối với Luật điển cùng việc căn cứ trên đó để kiến lập giới quy là vấn đề hết sức cấp bách cần phải giải quyết trong Phật giáo giới đương thời. Cho nên lịch sử truyền nhập của Phật Giáo sơ kỳ có thể được coi là một bộ văn bổn sử. Trong 20 năm ngắn ngủi mà bốn bộ Luật điển được dịch ra tại Trung thổ, có thể coi đó là một lời kêu gọi nhiệt thành và là nhu cầu chân thực của tảo kỳ Phật giáo Trung Quốc đối với giới luật, đồng thời cũng là sự đáp ứng tích cực lại cái nhu cầu đối với loại văn hóa này của các nhà truyền đạo đã mang lấy cái trọng trách thần thánh là truyền đăng tục diệm, cũng chính là sự thi hành bổn phận đối với sứ mệnh của bản thân họ. Còn như Luật điển của Ca Diếp Di Bộ thì đến năm đầu Định Vũ (543) thời Đông Ngụy, chỉ có một quyển Giải Thoát Giới Kinh do Bát Nhã Lưu Chi dịch ra, còn Quảng Luật thì rốt cuộc không được dịch thành. Ngoài đó ra, bộ Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Luật sau này do Đường Tam Tạng Nghĩa Tịnh từ Ấn Độ đem về, vào thời Vũ Tắc Thiên mới dịch ra, tổng cộng 18 loại, hợp thành 198 quyển. Nghĩa Tịnh pháp sư cùng với Pháp Hiển, Huyền Trang đều là ba vị đại "lữ hành gia" của Phật Giáo sử Trung Quốc. Vào năm thứ hai Hàm Hanh (671) trào vua Đường Cao Tông, (Nghĩa Tịnh) cưỡi thuyền sang Ấn Độ cầu pháp, trải qua 25 năm, chu du hơn 30 nước, đem về 400 bộ Phạn điển. Sau khi về nước chuyên tâm dịch kinh trên 10 năm trời. Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Luật phiên dịch ra so với các bộ Luật điển nói trên trễ đến gần 300 năm, vào lúc ấy, Tứ Phần Luật đã lưu hành khắp thiên hạ, nên chưa hoằng truyền được. Tùy theo các Quảng Luật được dịch ra, các Luận trước giải thích Quảng Luật cũng lục tục được dịnh ra, trong số ấy tương đối quan trọng có Tỳ Ni Mẫu Luận 8 quyển, không rõ dịch giả; Ma Đắc lặc Già Luận 10 quyển, Tăng Già Bạt Ma dịch vào thời Lưu Tống; Thiện Kiến Luận 18 quyển, Tăng Già Bạt Đà La dịch thời Tiêu Tề; Tát Bà Đa Luận 9 quyển, dịch giả không rõ; Minh Liễu Luận một quyển, Trần Chân Đế dịch. Đó chính là "4 Luật 5 Luận" của Luật điển Trung Quốc. Từ khi các Quảng Luật được dịch ra, trừ Ngũ Phần Luật chưa từng được hoằng thông, Thập Tụng Luật, Tăng Kỳ Luật từng thịnh hành vào khoảng Tống, Tề, Lương. Một dải Giang Nam nhờ có Tỳ Ma La Xoa và Lô Sơn Huệ Viễn thôi động, phần đông tôn sùng Thập Tụng Luật. Theo ghi chép, Tỳ Ma La Xoa tại Giang Lăng khai giảng Thập Tụng Luật, người nghe đông như mây. Cao Tăng Truyện bình rằng : "Luật tạng đại hoằng, lực của Xoa vậy". Ngài có soạn Tạp Vấn Luật Sự 2 quyển, truyền đến kinh sư Giang Ninh (thành phố Nam Kinh), làm phát sinh cảnh huống "người kinh sao chép, giấy quý như ngọc". Sau này Tăng Hựu trong Xuất Tam Tạng Ký Tập Tạp Lục quyển 12 có nói : "duy Tát Bà Đa Bộ lưu hành khắp đất Tề." Các bậc thầy vĩ đại đương thời về Luật học như Chí Đạo, Pháp Dĩnh v.v... đều hoằng hóa Thập Tụng Luật. Cao Tăng Truyện quyển 11 ghi Chí Đạo (412-484) trụ Chung Sơn (Nam Kinh) chùa Linh Diệu, điêu luyện về Luật học. Thời trước đó, Bắc Ngụy Thái Vũ Đế diệt Phật, tăng ni kinh tượng gặp nạn, sau tuy phục hưng, song giới pháp truyền thọ một phen khó nối tiếp được. Chí Đạo bèn dẫn hơn mười người đạo hợp chí đồng, đến Hổ Lao ở Hà Nam, nơi chùa Dẫn Thủy tập hợp tăng chúng của năm châu là Lạc, Tần, Ung, Hoài, Dự giảng luật diễn giới, còn trình bày về thọ pháp nữa. Tăng giới ở Bắc Ngụy mà được toàn hảo, thực do công đức của ngài. Pháp Dĩnh (416-482), người Đôn Hoàng, tinh nghiên Luật bộ, cuối năm Nguyên Gia (453) đến kinh đô của Tống ở chùa Tân Đình, được phong làm Tăng Chính ở đô ấp, đến thời Tề lại làm Tăng Chủ. Ngài trong hai triều Tống, Tề, tại Kim Lăng thịnh hoằng Thập Tụng Luật, được tôn làm Tông Sư của thất chúng. Trước tác có Thập Tụng Yết Ma và Ni Giới Bổn v.v... Môn hạ ngài có Trí Xưng, Tăng Hựu, sau này đều là các luật sư trứ danh. Trong các bộ Luật, Thập Tụng Luật là thịnh hành nhất. Cao Tăng Truyện ghi : "Từ khi Luật tạng phân rẽ đã lâu, đầu tiên qua đông Hạ, thời một bổn Thập Tụng của Tát Bà Đa Bộ là hoằng trì rộng lớn nhất." Quan Trung và các địa phương khác, phần đông chuộng Tăng Kỳ Luật. Đủ thấy vào lúc Luật học sơ truyền tại Trung Quốc, các bộ Luật đều cùng phổ biến, song Thập Tụng Luật đã từng độc chiếm sự yêu chuộng suốt mấy trăm năm. Trong Phật Giáo sử Trung Quốc, cuối cùng được hoằng thông độc thịnh, kết thành một tông, chính là Tứ Phần Luật. Tứ Phần Luật tuy đã sớm được dịch ra vào thời Diêu Tần, song nhân vì Phật Đà Da Xá dịch xong là quay về Tây Vực, nên không người hoằng dương. Sau đó hơn khoảng 60 năm, im ỉm bặt tăm, không ai nghiên tập. Cho đến thời Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế, Pháp Thông luật sư ở Bắc Đài nghiên tập Tăng Kỳ Luật, sau phát giác ra tăng chúng khi thọ giới là y theo yết ma của Tứ Phần mà đắc giới thể, song tùy hành lại y theo Tăng Kỳ Luật, giới thể và giới hành thành mâu thuẫn không cùng nhất trí, bèn ngưng giảng Tăng Kỳ Luật mà chuyên tâm trí lực nghiên tập và hoằng dương Tứ Phần Luật, để sao cho thọ, tùy được tương khế, sự quy về một lẽ. Từ sau đó, Tứ Phần Luật học ngày càng bừng lên, hoằng truyền dần thịnh. Pháp Thông luật sư tại Bình Thành (nay là thành phố Đại Đồng tỉnh Sơn Tây) khai giảng Luật này, song chỉ là giảng truyền bằng miệng, đệ tử Đạo Phú viết Tứ Phần Luật Sớ 6 quyển, nội dung cũng chỉ là phân đoạn khoa văn, còn về nghĩa của văn thì chưa giảng giải tận tường. Các năm cuối đời Bắc Ngụy, Tăng Thống Huệ Quang (468-537) bác thông Luật bộ, tiếp nối Đạo Phú nghiên tập Tứ Phần Luật. Ngài do Phật Đà Phiến Đa khai thị, tạo Tứ Phần luật Sớ 120 tờ, giảng giải tường tận về nội dung của Quảng Luật, cùng san định Yết Ma Giới Bổn, hết sức hoằng dương giới luật, đặt định nên nền móng để khai tông lập phái cho Tứ Phần Luật. Tứ Phần Luật mà được lưu bố rộng rãi ở Lạc Dương, thực là do lực của Huệ Quang. Ngài từng chế định ra "mười tám điều Tăng chế", bao khắp mọi pháp lữ, được thông dụng trong đời. Huệ Quang nguyên y chỉ Phật Đà Phiến Đa xuất gia học Thiền, và cùng với Lặc Na Ma Đề tinh nghiên Địa Luận, trở thành sơ tổ của phái Nam Đạo thuộc Địa Luận Tông. Sau lại chuyên tâm về Luật bộ, theo Huệ Quang Truyện trong Tục Cao Tăng truyện chép : "Hồi đầu, Tứ Phần chưa được truyền rộng, có Đạo Phú luật sư sáng khai bộ này, tạo sách 6 quyển, song chỉ là khoa văn, còn như đề xướng hoằng tông, thì tuyệt không ai biết. Nên những gì Quang học chỉ căn cứ nơi khẩu truyền." Vì thế Huệ Quang tạo "Tứ Phần Luật Sớ 120 tờ được đời sau dẫn dụng, lấy đó làm khuôn nghĩa." Huệ Quang nhậm chức Tăng Thống qua hai triều Ngụy, Tề có đến 40 năm, thường vì chúng tăng truyền giới, người đời gọi ngài là "Quang Thống Luật Sư". Môn hạ đệ tử của Huệ Quang rất đông, Đạo Vân, Đạo Huy, Đàm Ẩn, Hồng Lý, Huệ Viễn, Pháp Thượng, đều là danh tăng của một thời. Sa môn Huệ Viễn triều Bắc Chu y theo tăng thống Pháp Thượng thọ cụ túc giới. Mười đại đệ tử của Quang Thống Luật Sư đều là những vị chứng giới, vinh quang cả một thời ấy. Đời sau tôn Huệ Quang làm bậc khai sơn của Tứ Phần Luật Tông. Môn hạ của ngài là những vị truyền thừa hệ thống luật học Tứ Phần có Đạo Vân, Đạo Huy, Hồng Lý và Đàm Ẩn v.v... Từ Đạo Vân truyền ba đời đến Đạo Tuyên, Luật Tông mới hoàn toàn được kiến lập. Trong số các vị ấy, Đạo Vân "phụng di lệnh của Huệ Quang chuyên hoằng Luật bộ", viết Tứ Phần Luật Sớ gồm 9 quyển. Đạo Huy lại đem bộ sớ của Đạo Vân soạn ra chỉnh lý lại, lược thành 7 quyển. Hồng Lý thì soạn Tứ Phần Luật Sao 2 quyển, được các học giả đương thời coi trọng, và ảnh hưởng rất lớn đến Trí Thủ sau này. Trí Thủ y theo Luật Sao này khai diễn văn từ, lập thêm cương mục, ra tay chỉnh lý lại rất hệ thống, biên thành 4 quyển, các nơi đều truyền nhau học tập. Đạo Vân, Đạo Huy, Hồng Lý nhân hoằng truyền một dòng Luật pháp của Huệ Quang mà được thế gian coi trọng, người đời ấy có câu ngạn ngữ : "Vân Công đầu, Huy Công giữa, Hồng Lý ở giữa cùng trước tác." Đàm Ẩn nguyên phụng thờ Đạo Phú, thính thọ Luật bộ, sau lại theo Huệ Quang mà gặt hái tinh yếu, soạn Tứ Phần Sao 4 quyển, phán thích một đại thời giáo làm bốn tông là Nhân Duyên Tông, Giả Danh Tông, Bất Chân Tông và Chân Tông, trở thành một nhân vật hoằng truyền Giới tông, năm chúng đều ngưỡng mộ như bậc thầy. Được coi là thông Luật ngang cùng với Đàm Ẩn là Đạo Lạc có vị đệ tử là Pháp Thượng, đệ tử của Pháp thượng là Pháp Nguyên, có danh xưng là "Luật Hổ" trước tác Tứ Phần Luật Sớ một quyển, Thị Phi Sao hai quyển. Dưới Đạo Vân có hai hệ là Hồng Tuân và Đạo Hồng. Đạo Hồng ra sức xiển dương Tứ Phần, các đệ tử Hồng Uyên, Huệ Tiến, Huyền Uyển v.v... tục khởi, khiến Tăng Kỳ Luật gần như bặt tiếng tại Quan Trung. Môn hạ của Đạo Hồng có Trí Thủ, Huệ Tiến, Huệ Lâm, Đạo Kiệt v.v... Sau này mà hình thành nên Tứ Phần Luật Tông chính là pháp hệ của Trí Thủ. Trí Thủ (567-635) thuở nhỏ xuất gia theo Trí Mân là môn đồ của Tăng Trù, sau theo Đạo Hồng thính thọ Luật học. Ngài khảo định rộng rãi các Phật điển trong Tam Tạng, hễ có gì liên quan đến Luật đều so sánh sửa sai chú thích đâu đó, sao cho hội thông. Ngài than thở là 5 bộ Luật đương thời đều hỗ tương hỗn tạp, vì thế nghiên hạch các học thuyết cổ kim, viết thành Ngũ Bộ Khu Phân Sao gồm 21 quyển. Lại dùng Tứ Phần Luật Sớ do Đạo Vân chế tác làm cơ sở, tỉ giảo các dị đồng trong văn của các bộ Luật để tiện thủ xả mà soạn thành Tứ Phần Luật Sao 20 quyển, thế xưng là Quảng Sớ (còn gọi là Đại Sớ), Bộ này cùng với bộ Sớ của Huệ Quang (gọi là Lược Sớ), bộ Sớ của Pháp Lệ (gọi là Trung Sớ) gọi chung là "Luật Học Tam Yếu Sớ". Trí Thủ hoằng dương Luật học hơn 30 năm trời, đặt định nên cơ sở cho Luật tông đời Đường. Các danh tăng Luật học đương thời đều chịu ảnh hưởng của ngài, chính đệ tử của ngài là Đạo Tuyên tục thừa cái khuôn phạm của ngài để lại, trước thuật rộng rãi, cùng dùng giáo nghĩa của Đại Thừa để giải thích Tứ Phần Luật, mà sáng lập thành Tứ Phần Luật Tông.
2. Đạo Tuyên Sáng Tông Đạo Tuyên (596-667), là người sáng lập ra Tông Nam Sơn Luật Học, là nhà Phật học trứ danh của thời Đường, một sử học gia của Phật Giáo, một tư tưởng gia trọng yếu của lịch sử tư tưởng Giới Luật Trung Hoa. Nguyên quán ở Ngô Hưng (nay là thành phố Hồ Châu tỉnh Triết Giang), có thuyết nói là người ở Đan Đồ (nay là Trấn Giang tỉnh Triết Giang). Họ thế tục là Tiền, cha ngài từng giữ chức Sử Bộ Thượng Thư của triều Trần. Từ nhỏ dã được sự giáo dục tốt đẹp của gia đình, chín tuổi đã biết làm phú. Nhân triều Tùy đại hưng Phật Giáo, vào năm mười lăm tuổi ngài bèn bỏ nhà theo sư Huệ Quân chùa Nhật Nghiêm tại Trường An thọ nghiệp, năm thứ hai là xuống tóc ngay tại đạo trường Nhật Nghiêm. Năm 20 tuổi đến chùa Đại Thiền Định y theo Trí Thủ luật sư thọ giới cụ túc. Theo ngài Trí Thủ học luật, nghe thầy giảng Tứ Phần Luật đến hơn hai mươi lần, chuyên tâm tha thiết nghiên cứu Luật bộ. Trí Thủ là một nhà tân hưng Luật học lớn đương thời, "sao, sớ chất như núi, học đồ tràn như mây", độc bộ tại Trường An hơn 30 năm trời. Đạo Tuyên thọ giáo dưới trướng của Trí Thủ, đặt định nên cơ sở Luật học của cả một đời. Chúng ta có thể theo cách hành tích và trước thuật của ngài để khảo sát về tư tưởng Luật học cũng như sự cống hiến của ngài cho Phật Giáo Trung Hoa. (còn tiếp 1 kỳ) |