Tản Mạn về chiếc áo Cà-Sa
 
...Chiếc y cà sa mang những giá trị tâm linh, là biểu tượng của đạo pháp do đó cũng trở nên nhiệm màu và linh thiêng. Hàng phật tử xuất gia đủ hạnh duyên được khoác lên mình chiếc y cà sa sẽ có thêm sức mạnh để ngăn ngừa những tội lỗi, đoạn trừ những phiền não, làm cho những điều xấu không thể xâm nhập vào thân thể, đồng thời chiếc y cà sa đó cũng khiến cho nhà tu hành không bị tham sân si cám dỗ, tác động, làm nảy sinh trong lòng những điều thiện và sự từ bi. Đó cũng chính là những giá trị tinh thần tốt đẹp mà đạo Phật đang vun bồi và hướng tới.

Trong Phật giáo, chiếc y cà sa còn mang một giá trị truyền thống hết sức ý nghĩa, đó là truyền thống trao truyền y bát, tức y cà sa và bình bát đựng phẩm vật. Người được thụ nhận y bát sẽ là người kế tục sự nghiệp lãnh đạo tăng đoàn của đức Phật. Truyền thống này xuất phát và được phổ biến trong Phật giáo Thiền tông. Sách Liên đăng hội yếu có thuật lại tích này như sau : Trong một cuộc hội ở trên núi Linh Thứu, Đức Thế tôn giơ cành hoa ra trước mặt đại chúng mà không nói lời nào. Mọi người đều im lặng không hiểu gì, chỉ có Ngài Ma-ha-ca-diếp (Mahà Kacàyapa) là mỉm cười. Đức Thế tôn liền nói : "Ta có chính pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn nay trao lại cho Ma-ha-ca-diếp". Sau đó Phật đã trao truyền lại y bát cho ngài Ma-ha-Ca-diếp.

Truyền thuyết này gọi là Niêm hoa vi tiếu (Cầm hoa mỉm cười), nêu lên khái niệm về sự tinh tế và cao siêu của sự giác ngộ không thể trình bày hay diễn đạt bằng lời nói được. Yên lặng tượng trưng cho sự quán nhận trực tiếp, vượt lên trên ngôn từ và sự hiểu biết quy ước của chúng ta. Đây cũng là một đặc thù của thiền tông, vì thế ngài Ma-ha-ca-diếp được xem là tổ thứ nhất của Thiền tông trên đất Ấn Độ. Ngài Ma-ha-ca-diếp sau khi nhận y bát của Đức Phật đã lãnh đạo tăng đoàn khi đức Phật nhập diệt.

Ngài Ma-ha-Ca-diếp về sau lại trao y bát của mình cho ngài A-nan-đà. Tục lệ truyền thụ này kéo dài ở Ấn Độ cho đến tổ thứ 28 là Ngài Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma, 470 - 543), tức gần một ngàn năm sau khi Phật tịch diệt. Khi ngài Bồ-đề-đạt-ma sang truyền đạo ở Trung Quốc, ngài trở thành vị tổ thứ nhất của Thiền tông trên phần đất này. Tục lệ truyền y bát tiếp tục trên đất nước Trung Hoa cho đến tổ thứ sáu là ngài Huệ Năng (638-713), tức được thêm khoảng hai trăm năm nữa. Tổ của ngài Huệ Năng là ngài Hoằng Nhẫn (601-674) trao chiếc áo cà sa tượng trưng sự lãnh đạo tông phái cho ngài Huệ Năng, vì Huệ Năng là người thấu hiểu sâu xa hơn hết về thiền học trong số các đệ tử của tông phái. Ngài Huệ Năng kính cẩn tiếp nhận chiếc áo cà sa cao quý ấy và đồng thời cũng hiểu rằng chiếc áo tượng trưng cho lãnh đạo và uy quyền này rồi sẽ gây ra sự ganh tỵ và tranh chấp trong tăng đoàn. Ngài Hoằng Nhẫn cũng ý thức được điều ấy nên khi trao chiếc áo cho ngài Huệ Năng đã khuyên Huệ Năng bỏ trốn về phương Nam và từ đó về sau không truyền thụ y bát nữa.

Truyền thuyết trên đây có thể mang nhiều yếu tố hư cấu nhưng điều đó đã chứng tỏ sự quan trọng của chiếc y cà sa trong Phật giáo. Người được thụ nhận y cà sa và bình bát tức là đã được thụ nhận, lĩnh hội tâm pháp và sự màu nhiệm của đạo pháp để kế tục sự nghiệp của tăng đoàn. Và khi đó, y bát cũng không còn chỉ là vật dụng thông thường mà đã trở thành những giá trị tinh thần tối cao và linh thiêng của Phật giáo.

Chiếc áo cà-sa qua thời gian, không gian đã có những thay đổi để phù hợp với điều kiện môi trường khí hậu, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, mỗi vùng đất nhưng những biến đổi đó không làm mất đi những giá trị biểu trưng, những hình tượng tiêu biểu của đạo Phật. Chiếc áo cà sa vẫn luôn luôn giữ được truyền thống và phong cách hàng ngàn năm của Phật giáo, từ những tục lệ xa xưa của Phật giáo Nam tông cho đến những cải cách về hình thức của Phật giáo Bắc tông. Tất cả đều không đi ra ngoài đạo pháp và hơn thế càng làm cho hình ảnh Phật giáo trở nên thân thuộc, gần gũi, gắn bó mà vẫn trang trọng, tôn kính và thiêng liêng./.

Phúc Nguyên

...Từ nguyên thủy, chiếc áo cà-sa là những miếng vải vụn, vải rách bạc màu được khâu lại với nhau để làm áo. Phật và Tăng đoàn của Phật dùng áo ấy để che thân, để đắp và để gấp lại làm tọa cụ. Chiếc áo ấy đã biến dạng để tượng trưng những thửa ruộng vuông vắn của phúc hạnh, để tiêu biểu cho sự lãnh đạo một Tăng đoàn, để trở thành tấm rakusu của người tu Thiền, tấm rakusu được kính cẩn đặt lên đầu và lên bàn thờ.

Tất cả những biến dạng và thêm thắt ấy có phải là những điều phù phiếm hay không ? Thưa không, những thêm thắt ấy thật cần thiết cho việc tu tập, tuy không phải là Đạo Pháp nhưng là những cánh hoa của Đạo Pháp. Ngón tay không phải là Đạo Pháp, nhưng không có ngón tay ta không thấy được Đạo Pháp. Từ lòng Từ bi của Phật, từ những lời giảng huấn thiết thực của Phật nở ra muôn hoa, vạn sắc, nở ra trăm triệu trang kinh sách. Vì thế chiếc áo cà-sa, tuy là một biểu tượng, nhưng thật thiết yếu. Chiếc áo ấy được mặc lên thân xác của người xuất gia để làm gương cho ta soi, và được khoác lên tâm thức ta để che chở cho ta. Ta khoác chiếc áo ấy lên tâm thức để ra đường, ta gấp nó lại để gối đầu trong giấc ngủ. Nó sẽ che chở cho ta trước những ý tưởng điên rồ, những xúc cảm bấn loạn, những cơn ác mộng giữa đêm đen.

Phật dạy đừng bám níu, Đạo Pháp cũng chỉ là một chiếc bè giúp ta qua sông mà thôi. Nhưng nếu không có chiếc bè ta không thể qua sông được, không có Đạo Pháp ta không thể vượt được dòng thác của Vô minh. Truờng hợp của chiếc áo cà-sa cũng thế, khi ta còn đang lặn ngụp trong dòng thác chảy xiết của Vô minh, ta hãy bám níu vào nó. Cuốn trôi theo dòng nước cuồn cuộn, nếu ta vớt được một cành tre gai góc to bằng ngón tay, ta đừng vội tưởng đã đến được bờ bên kia của Giác ngộ mà vứt bỏ nó đi. Ta hãy bám lấy cành tre, tom góp thêm để kết lại làm bè, một chiếc bè thật lớn, vì có thể những chúng sinh khác đang lặn ngụp bên cạnh ta và chưa vớt được một cành tre nào. Vậy ta hãy thu nhặt những mảnh vải vụn trong cõi vô thường này để tự may lấy cho ta một chiếc áo cà-sa.

Tôi xin mượn một lời nguyện cầu của thiền sư Ryokan để chấm dứt bài viết này. Ông sống trong chốn hiêu quạnh nơi rừng núi hoang vu, có thể ông cũng chẳng có gì ngoài chiếc am cỏ trống không, một mảnh áo cà-sa trên vai và một khuôn trăng bên thềm cửa xổ, nhưng tôi nghĩ rằng tâm thức ông lúc nào cũng muốn dang tay để ôm lấy tất cả chúng sinh. Ông đã nguyện cầu như sau : "Tôi nguyện cầu chiếc áo cà sa của một người tu hành như tôi sẽ trở thành thật rộng lớn để có thể gom lại và quàng lên thân xác của tất cả chúng sinh đang đau khổ trong cõi vô thường này..."

Hoàng Phong

...Thưa Sư Phụ ! Người đã về cõi Phật nhưng áo cà sa may từ mảnh vải Người cho, những chiếc áo do người may nay con vẫn còn giữ với tất cả tâm tình Người nhắn gửi. Lời dạy bảo ân cần của Người vẫn còn văng vẳng bên tai :

"Hãy làm một Ông Thầy nên thân nên thể. Luôn nhớ giới luật mà hành trì theo", "...ở Việt Nam ở Nga, ở Mỹ cũng được, miễn làm sao còn giữ chiếc áo đó là được rồi" là sự bảo hộ của Người tiếp cho con thêm định lực vững bước trong dòng đời dù có nhiều biến thiên nghịch cảnh, con xin nối tiếp bước đi Phật Tổ, Chư Tôn Đức nối chí Tông Phong và trong hành trang vượt qua dòng sanh tử con luôn mang theo chiếc áo Cà Sa bên mình với tâm niệm : "Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, phụng trì Như lai mạng, quảng độ chư chúng sanh" (Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước tối thượng, phụng hành lịnh Như lai, hóa độ cho tất cả).

Mỗi vị Sa Môn vào trong Giáo Pháp của Phật, mặc áo Cà Sa, ở trong chùa rồi sẽ tu tập tiến triển thăng hoa Đạo hạnh để được "Vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai", Nhà Như-Lai chính là tâm từ bi lớn đối với trong tất cả chúng sanh, y Như-Lai chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục, tòa Như-Lai chính là nhứt thiết pháp không. Đó mới thật là nơi an trụ còn tất cả những cái gì "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng" (Phàm ở đời, cái gì có hình tướng thảy đều là hư vọng). Chiếc áo Cà Sa và Tăng Sĩ cũng như tướng và thể, hình thức và nội dung. Chiếc áo không làm nên Thầy Tu nhưng Thầy Tu không thể rời chiếc áo. Rời y mà ngủ 1 đêm đã là phạm giới như lời Đức Phật dạy :

"Nên biết rằng : Như Lai Ứng Cúng là người an lạc bậc nhất, xuất gia ly dục là niềm vui bậc nhất, tùy theo chỗ mà ở, lúc đi khất thực phải đem theo ba y và bát, ví như đôi cánh của chim luôn dính sát vào thân. Tỳ kheo các ông đã từ bỏ dòng họ cũ, vì lòng tin xuất gia, thế nên, hễ đi đến đâu phải đem pháp y theo bên mình, không nên lìa y qua đêm".

Y Bát là dấu ấn của Phật Tổ. Mỗi vị Tăng sĩ hãy tinh cần tu học để làm chói sáng Cà Sa chứ đừng làm hoen ố, hủy hoại Ý nghĩa cao quý của chiếc Cà Sa mà phải chịu trầm luân muôn kiếp. Làm thế nào để xứng đáng mặc áo Cà Sa ? Hãy luôn tâm niệm và thực hành lời dạy của Phật :

"Ai rời bỏ uế trược,
Giới luật khéo nghiêm trì,
Tự chế, sống chơn thực,
Thật xứng áo cà sa."

(Kinh Pháp Cú kệ số 10)

Thích Đồng Trí

...Nhưng trên tổng thể hầu như chư Tăng thì mặc pháp phục bằng y hậu màu vàng khi làm lễ; y phục thường nhật là áo tràng nâu đối với các vị Tỳ kheo, áo nhật bình lam đối với các vị sa di dùng để giao tiếp, đi lại. Còn chư Ni thì áo hậu lam, y vàng khi làm lễ; áo tràng, áo nhật bình lam để giao tiếp và đi lại khi thực hiện các Phật sự. Thực tế cho thấy chỉ có sự khác biệt về độ đậm nhạt của màu sắc về pháp phục, y phục thường nhật mà thôi hoặc là có những trường hợp cao tăng, trưởng lão tùy theo đại lễ mà mặc hậu vàng, đắp y đỏ, y gấm, 25 điều nhưng hậu vàng. Nói chung hễ nói đến tu sĩ Phật giáo thì người ta nghĩ ngay là mặc áo cà sa khi hành lễ, áo nâu, áo lam khi sinh hoạt trong đời sống sinh hoạt bình thường...

... Trước cũng như sau 1975, Phật giáo Việt Nam đã có nhiều thay đổi, Hiến Chương đã tu chỉnh nhiều lần. Nhưng vẫn chưa có điều nào quy định thật cụ thể về pháp phục, y phục đặc thù của Tu sĩ Việt Nam. Điều này cũng có nghĩa tùy theo hệ phái riêng biệt mà pháp phục của mỗi hệ phái có một màu sắc riêng (Bắc Tông, Nam Tông, Khất sĩ). Trên đại thể mỗi hệ phái đều có sự đồng nhất về pháp phục, y phục một cách tương đối, do độ đậm nhạt màu sắc trong lễ phục, y phục khác nhau, không quy định cụ thể.

Điểm đáng lưu ý là trong ba hệ phái thì Bắc tông chiếm phần lớn tổng số Tăng Ni toàn quốc. Bộ pháp phục của Tăng sĩ Bắc tông là có một điểm chung là bộ y hậu màu vàng, nhưng cái không đồng bộ là chất liệu và gam màu vàng có độ đậm nhạt khác nhau. Còn y phục thường nhật là chiếc áo tràng xiên, áo nhật bình nâu trên bình diện tổng thể đã tạo nên nét riêng về y phục của Tăng Ni Việt Nam.

Tuy nhiên ngày nay phải chăng quá trình giao lưu văn hóa Phật giáo các nước đã tác động lẫn nhau, chúng ta thấy có hiện tượng tăng sĩ Việt Nam mặc y phục áo tràng màu vàng theo kiểu Trung Quốc, Đài Loan, áo, kèm theo giỏ, đảy, giày Trung Quốc ..., có cảm nhận như là tăng sĩ Trung Quốc. Vấn đề đặt ra là để chúng ta suy nghĩ Phật giáo Việt Nam sau bao nhiêu năm tháng thăng trầm biến động của lịch sử, thiết nghĩ đã đến lúc cũng nên thống nhất về pháp phục, y phục từ chất liệu và màu sắc, kiểu dáng mà khi Tăng Ni Việt Nam mặc vào là biết đây là Tu sĩ VN, chứ không thể nghĩ đó là tu sĩ mặc pháp phục và y phục nước ngoài...

Thích Phước Đạt