| Thọ Trì Ca Thi Na |
|
Mỗi năm, 3 tháng mùa Hạ là thời gian Đức Phật ấn định chư Tăng phải tùng chúng tu học, thúc liễm thân tâm để củng cố tính thanh tịnh và hòa hợp của đoàn thể Tăng Già sau một khoảng thời gian dài 9 tháng bận rộn công tác hoằng hóa. Sau 3 tháng an cư đó, 1 trong những phận sự mà chư Tăng cần phải làm là thọ trì Y Ca-thi-na. Ngọn nguồn của ngày lễ này có từ thời Đức Phật còn tại thế, khởi từ sự kiện Tăng chúng cùng nhau may y cho Trưởng lão A-na-luật. Câu chuyện này được kể lại như sau :
Trưởng lão A-na-luật nhờ tôn giả A-nan cung thỉnh những Tỳ kheo khác cùng may hộ Y cho mình bởi vì ba Y của ngài đã rách nát mà mắt của ngài thì không nhìn thấy. Tôn giả A-nan đi thỉnh mời tất cả các Tỳ kheo trong tinh xá. Đức Phật biết được sự việc nên hỏi A-nan vì sao không mời ngài tham dự. A-nan cung thỉnh Phật và Ngài chấp nhận. Ngay hôm ấy, Phật đã cùng với 800 Tỳ kheo may xong 3 Y cho Trưởng lão A-na-luật, Đức Phật làm người thợ cả. Khi 3 y đã được may xong, Đức Phật dạy Trưởng lão A-na-luật giảng về công đức của Y Ca-thi-na. Kế đến Đức Phật ấn chứng lời của Trưởng lão A-na-luật và khuyên các Tỳ kheo nên thọ trì y Ca-thi-na. Kể từ đó, thọ trì y Ca-thi-na trở thành một truyền thống được tổ chức ngay sau ngày mãn Hạ. Ca-thi-na là dịch âm từ Kahina trong tiếng Phạn, Trung Quốc thường phiên âm là Ca-thi-na, có ý nghĩa là thể tánh kiên cố, vì y này biểu hiện sự kiên cố của bản thể Tăng già, sự kiên cố này được thể hiện qua hai tính chất căn bản của Tăng đó là thanh tịnh và hòa hợp. Thọ trì y Ca-thi-na là một lần nữa xác nhận tính thanh tịnh và hòa hợp đó sau khi chư Tăng đã trải qua thời gian an cư. Lại nữa, giới luật của người xuất gia rất nghiêm ngặt, những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống có khi vì thế mà trở nên thiếu thốn; cho nên, việc thọ trì y Ca-thi-na còn được xem như là một sự tưởng thưởng đối với các Tỳ kheo sau 3 tháng an cư. Sự tưởng thưởng đó chính là 5 lợi ích mà một vị Tỳ kheo thọ y Ca-thi-na được hưởng. 5 điều lợi ích ấy là : - Được chứa vải dư trong nhiều ngày.
Với 5 điều lợi ấy cho nên y Ca-thi-na cũng còn được gọi là Y công đức. Trong truyền thống Nam tông, lễ thọ y Ca-thi-na được tổ chức thành lễ dâng y và xảy ra đều đặn sau mỗi mùa an cư. Ở nước ta, vì nhiều nguyên do, lễ thọ y Ca-thi-na trong truyền thống Bắc tông đã không được thực hiện đều đặn như tinh thần của giới luật đề ra mà chỉ mới được tổ chức vài lần. Lịch sử gần đây, lễ thọ y Ca-thi-na lần đầu đã được cố Hòa thượng khai sơn tu viện Quảng Hương Già Lam tổ chức tại bổn viện vào năm 1983, tuy nhiên, thời gian sau đó lại bị gián đoạn. Những năm gần đây, ở nước ta, các chùa Bắc tông cũng bắt đầu tổ chức lễ dâng y, tuy nhiên, việc thọ trì và ý nghĩa của Y Ca-thi-na, là tinh túy của lễ dâng Y, lại không được nhắc đến hoặc chưa được hiểu rõ. Nhìn chung các Chùa chỉ tổ chức lễ dâng Y như một hình thức cúng dường tứ sự bình thường mà không mang ý nghĩa của y Ca-thi-na. Y Ca-thi-na thực chất là chiếc y mang tính biểu tượng, nó tượng trưng cho công đức tu tập của Tăng trong 3 tháng an cư. Do vậy, sau khi làm lễ Tự tứ xong, tất cả Tăng cùng tập họp tại giới trường và tác pháp thọ y. Tăng sẽ cử một Tỳ kheo đại diện trì chiếc y Ca-thi-na, nhưng mọi người tham dự tác pháp đều được hưởng 5 công đức đã nói trên. Và như thế, thọ y Ca-thi-na chính là thọ nhận 5 công đức đó chứ không phải chỉ gói gọn ở chiếc Y được may thành. Về người trì Y, luật Thập Tụng quy định, Tỳ kheo hội đủ năm đức tính sau đây mới đáng được Tăng sai làm người trì Y : - Không thiên ái,
Mặt khác, năm hạng người sau đây không được phép làm người trì y : không tuổi hạ, phá hạ, hậu an cư, bị tẫn xuất và biệt trú. Người hưởng công đức Y Ca-thi-na, tức là hưởng 5 quyền lợi do hiệu lực của Y công đức, cũng phải đúng pháp. Luật quy định có 11 hạng Tỳ kheo không được hưởng 5 điều lợi ích này (theo Hành sự sao tư trì ký, Đại 40, tr. 252a) : - Người gởi dục, tức Tỳ kheo không hiện diện.
Về thời gian thọ trì Y Ca-thi-na, theo luật Tứ Phần giải thích, ngày 15 tháng 7 âm lịch là Tự tứ, ngày 16 thọ y Ca-thi-na, và hiệu lực của 5 điều lợi ích kéo dài 5 tháng đến ngày 15 tháng 12 âm lịch là chấm dứt. Như thế, thọ Y Ca-thi-na là một nghi thức của Tăng, có tác Pháp Yết ma chứ không phải là lễ dâng y bình thường do đàn việt tổ chức. Đó cũng là điểm then chốt cần lưu ý khi tổ chức nghi thức thọ Y Ca-thi-na. Nói tóm lại, y Ca-thi-na là Y công đức, nó mang tính ân thưởng. Nhưng trên tất cả, ý nghĩa của Ca-thi-na là thể hiện tinh thần hòa hợp của Tăng. Bởi vì như khởi nguyên của nó, toàn thể Tăng chúng gồm cả Đức Phật và 800 Tỳ kheo cùng chung sức may 3 y cho Trưởng lão A-na-luật. Đó là một việc làm toát lên sự hòa ái của tình cảm thầy trò mà chỉ cần nghĩ đến cũng đủ khiến cho người ta cảm động. Chuyện ngày xưa đã vậy. Còn ngày hôm nay, Phật giáo chúng ta trên bước đường hòa nhập vào dòng chảy phát triển của xã hội, hơn bao giờ hết, những giá trị tâm linh, tinh thần thanh tịnh và hòa hợp của những người con Phật nói chung, của những người lãnh đạo Phật giáo nói riêng càng cần phải được củng cố và nêu cao. Thiếu hai tinh thần ấy, Phật giáo chỉ là một tổ chức kềnh càng và Tăng già chỉ là một tập thể ô hợp gắn kết vì những mục đích nhỏ bé. Chúng ta thường nói : "Hạnh phúc thay chư Phật ra đời, hạnh phúc thay giáo pháp cao minh, hạnh phúc thay Tăng già hòa hợp !". Nói như thế để thấy, tinh thần thanh tịnh và hòa hợp là kết tinh của Tăng già, và Y Ca-thi-na cũng gói ghém tinh thần ấy. Tìm hiểu thêm về ý nghĩa của Y Ca-thi-na, hy vọng sau mỗi mùa hạ, chúng ta có thể tổ chức những buổi lễ Thọ y công đức theo đúng ý nghĩa của nó. Thanh Hòa Ý nghĩa của màu sắc Y phục Hỏi : Chúng tôi thấy y phục của quý Thầy, quý Sư cô gồm 3 màu chính : màu lam, màu nâu, màu vàng. Trong đó, theo sự hiểu biết của chúng tôi thì màu lam và màu nâu là màu của thường phục (mặc trong sinh hoạt, đi lại, giao tiếp) còn màu vàng là màu của pháp phục (mặc trong lúc làm lễ). Riêng Phật tử mặc áo tràng khi hành lễ có màu lam. Xin cho biết ý nghĩa của các màu ấy ? Ngoài ra, chúng tôi còn thấy quý Sư ở nhiều nơi quấn y màu vàng hoặc đỏ sẫm, quý Ni quấn y màu trắng, có nơi thì quý Thầy mặc thường phục toàn màu vàng và một vài đạo tràng Phật tử mặc áo tràng màu đen. Xin cho biết thêm về những điều ấy ? Đáp : Trước hết, màu sắc của cà sa (kasàya), tức pháp y do Phật chế định là hoại sắc, không phải chính sắc (xanh, vàng, đỏ, trắng và đen). Về hoại sắc, đa phần các bộ Luật tán đồng quan điểm hoại sắc gồm các màu pha như : màu xanh dương đậm (xanh+đen), màu bùn (nâu+đen) và màu mộc lan (đỏ+đen). Ngoài ra, còn có quan niệm cho rằng hoại sắc là hoà lẫn cả năm màu chính để thành một màu khác (Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bản Sớ). Đến thời Phật giáo bộ phái thì có năm bộ phái màu sắc y phục khác nhau như : xanh (Hoá điạ bộ), vàng (Đại chúng bộ), đỏ (Pháp tạng bộ), đen (Thuyết nhất thiết hữu bộ), và mộc lan (Ấm quang bộ) (Đại Tỷ Kheo Tam Thiên Oai Nghi, q.Hạ). Theo quan điểm Bách Nhất Yết Ma, q.9 : "Phàm là cà sa, phải nhuộm cho hoại sắc : hoặc xanh (màu rỉ đồng), hoặc thâm (màu bùn), hoặc vàng nghệ (màu đất nung)", đây là ba màu cà sa như pháp. Đa phần Tăng sĩ Phật giáo Ấn độ mặc y màu vàng nghệ hoặc nâu đỏ. Phật giáo Trung Quốc thời Hán-Nguỵ, pháp y màu đỏ, về sau thêm màu đen, xanh và vàng thẫm. Phật giáo Việt Nam do đặc điểm dung hội nhiều hệ phái Phật giáo như : Bắc tông (chiếm đa số), Nam tông, Khất sĩ, Hoa tông... nên màu sắc y phục của Tăng Ni rất đa dạng, có nhiều khác biệt. Màu pháp phục (y và áo hậu) của chư Tăng Ni Bắc tông là màu vàng, riêng Ni giới thì áo hậu màu lam (có nơi màu nâu). Màu y vàng biểu trưng cho năng lực chánh niệm làm nền tảng để thàh tựu định tuệ. Màu vàng còn là màu của tuệ giác, tượng trưng cho sự siêu việt thế gian, buông bỏ, xả ly, không chấp thủ và thành tựu giải thoát. Ngoài ba y, chư Tăng Ni Bắc tông còn có thường phục là bộ đồ ngắn (vạt hò), áo dài (áo nhật bình, áo tràng). Sở dĩ gọi thường phục nhằm phân biệt với pháp phục (chỉ mặc trong lúc hành lễ). Thường phục này gồm hai màu chủ đạo là màu nâu và màu lam. Màu nâu (đen+đỏ hoặc vàng+đỏ sẫm) là màu tối, màu của đất, không đẹp tượng trưng cho sự giản dị, chân chất, bền bỉ, trầm mặc có khả năng kham nhẫn, chịu thương chịu khó. Mặt khác, màu nâu còn biểu trưng cho sự thanh đạm nhưng đầy hùng lực của đời sống phạm hạnh, ly tục. Chư Tăng Ni và Phật tử miền Bắc hầu hết trang phục là màu nâu này. Màu lam (khói) cũng là màu thường phục của Tăng Ni đồng thời là màu lễ phục của Phật tử (áo tràng, áo đoàn Gia đình Phật tử). Màu lam là màu hoà hợp không rực rỡ cũng không quá u trầm. Màu lam tượng trưng cho tinh thần bình đẳng, hòa đồng, tinh tấn và nhẫn nhục của người con Phật. Đặc điểm của màu lam là dễ dơ nhưng khó thấy, giống như tâm chúng sanh bao hàm nhiễm ô và thanh tịnh. Tịnh hay nhiễm cũng đều xuất phát từ nơi tâm. Nếu để cho phiền não, nhiễm ô dấy khởi thì che khuất phần thanh tịnh, sáng suốt và ngược lại nếu xa lìa phiền não, tham ái thì chân tâm, Phật tánh ngày càng hiển lộ. Vì thế, khoác lên mình màu áo lam để nhắc nhở người con Phật nỗ lực tu tập, thực hành Chánh pháp. Đối với chư Tăng Ni đắp y theo truyền thống, màu vàng tươi hay vàng sẫm thuộc hệ phái Khất sỹ. Chư Tăng Nam tông đắp y theo truyền thống và thường có màu nâu đỏ, đỏ sẫm hay vàng sẫm. Vị "Ni" đắp y màu trắng là tu nữ thuộc Phật giáo Nam tông, tuy có hình thức xuất gia nhưng thực chất những vị này chỉ là cư sỹ (Bạch y) thọ tám hoặc mười giới để tu tập. Trường hợp chư Tăng mặc thường phục toàn màu vàng là những vị cao đức hoặc thiền sinh thuộc các thiền viện. Riêng những Phật tử mặc áo tràng màu đen thuộc các đạo tràng Phật giáo Hoa tông, chủ yếu là cộng đồng Phật tử người Việt gốc Hoa. Tuy màu sắc y phục có sự khác nhau do đặc điểm hệ phái, tông phái nhưng tất cả các hệ phái đều tu tập theo lời Phật dạy và hòa hợp, bình đẳng dưới ánh hào quang của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni. Quảng Tánh - Huyền Ngu |