| Bát cơm lưu phạn |
| Cái ăn, cái mặc của sự xuất ly |
|
Cái ăn, cái mặc là hai nhu cầu thiết yếu của thân, nuôi lớn thân và làm cho thân đẹp. Cho nên hai nhu cầu này là mặt nổi của thân nghiệp, nó đóng vai trò gián tiếp dẫn dắt con người tạo tác ra nghiệp thiện hay nghiệp không thiện. Điều này tưởng ai cũng nhận ra được khi đối trước cuộc sống cạnh tranh vì lợi nhuận này. Đối với người đã thoát ly thế tục thì cũng không thể từ bỏ hẳn được hai nhu cầu đó, song nếu nó vẫn cứ như đời thường thì chẳng có gì để nói. Cho nên điều tất yếu phải có khác đi và cái khác đó là phải nhìn thấy được bản thể xuất ly của mình trong cái ăn, cái mặc ấy. Chính vì thế trong tạng Luật đã đề cập đến oai nghi ăn, mặc đến từng chi tiết để hành giả xây dựng sự giải thoát từ trong cái ăn, cái mặc. Đó là một thực tế vừa đơn giản lại vừa không đơn giản đối với sự xuất ly :
Thái tử Tất Đạt Đa thuộc một trong số người ăn sung mặc sướng nhất thế gian, nhưng Ngài đã từ bỏ chúng. Có sống trong đó rồi từ bỏ được chúng nên thái tử Tất Đạt Đa mới nhìn thấy rõ tính cách giải thoát cửa vấn đề. Và Ngài dấn thân vào con đường Bồ tát, ở đó cái ăn, cái mặc có lúc đã hạ xuống mức thấp nhất để chỉ duy trì được sự sống. Phải mất 6 năm đi trong nghịch lý để nhận ra bát sữa trăm vị là bạn đồng hành của sự giác ngộ. Cái khó của người xuất gia là biết lúc, biết thời để ăn, để mặc để làm tăng ích cho sự nghiệp giải thoát. Chỗ khác với đời thường chính là vậy Bát cơm lưu phạn Không gian thọ thực của hành giả là không gian của phép tắc, của oai nghi, của điều tỉnh thức và của sự nhớ tưởng biết ơn. Dù thọ thực một mình hay ăn cùng 100 vị 1.000 vị thì bữa ngọ trai ấy đều giống nhau về hình thức cũng như nội dung. Về hình thức oai nghi ăn là một, về nội dung là nội dung của "3 chủ đề" và "5 điều quán tưởng" (Tam đề, Ngũ quán), nghiã là hành giả quán chiếu về mối quan hệ của sự sống, sự xét mình, sự thù ân, con đường dẫn đến đạo nghiệp và bát cơm lưu phạn là biểu trưng cho tinh thần được xây dựng từ nội dung ấy. Đối với tư tưởng Đại thừa thì bát cơm lưu phạn là lòng thương tưởng đến sự đó khát xung quanh và trong tinh thần Mật tông thì bát cơm ấy có thể biến thành sự no đủ cho cả ba cõi. Có thể bát cơm lưu lại được vận dụng và nâng lên từ thực tế này. Thời Phật còn tại thế, có một trú xứ ở nơi núi rừng vắng vẻ. Ngày nọ, một vị Tỳ kheo khất thực về; dùng cơm xong thì có một tên giặc cướp đến đòi ăn, dù chỉ một bát cơm lót dạ nhưng không còn đâu để cho. Tên giặc cướp bảo rằng Tỳ kheo nói dối; và trong cơn đói, đã hành hung vị Tỳ kheo ấy khá nặng. Sự việc này được trình lên Phật. Đức Phật dạy các Tỳ kheo nhất là Tỳ kheo ở A lan nhã, khi khất thực về, không vội ăn, và khi ăn nên lưu lại một bát cơm... (tóm lược từ Ngũ Phần luật). Việc đói khát, thiếu thốn, cơ cực là cái dộng nghiệp triền miên của bao điều không thiện trong loài người, không luận là thời nào. Nghĩ đến điều này mà bữa ngọ trai của hành giả xuất ly là sự hành trì, tu niệm, là sự quán tưởng, sự cúng dường, bố thí, là sự lân mẫn nhớ ân. Và bát cơm lưu phạn cô đọng quán chiếu với tất cả thiện pháp như thế nhằm để cho sự đói khát, cơ cực kia có chỗ để nương nhờ, nếu sự nương nhờ ấy còn đủ duyên lành, cho một sự sống, ở thế giới này hay ở thế giới khác. Đối với đất nước ta, tùy thời tùy lúc, việc vận dụng Thiền, Mật và Tịnh vào việc hành trì, tu tập hay để xiển dương đạo pháp rất linh hoạt và điều này đã thể hiện rõ nét trong bữa ngọ trai của các thiền sư Việt Nam. Qua trình tự bữa ngọ trai này, nhất là trong ba tháng hạ, ta sẽ thấy rõ sự dung hợp Thiền, Mật, Tịnh trong sự thọ thực. Sự dung hợp này nhằm nối kết giữa "nội từ tâm" và "ngoại từ tâm", tức là duyên ngoại hộ mười phương để đem điều lợi lạc của bữa ngọ trai dung thông sự no đủ đến khắp cùng. Vì thế bát cơm lưu phạn của thiền môn Việt Nam là bát cơm chứa đựng năng lực cứu vớt sự đói khát được kết hợp bởi sức mạnh của Thiền, Mật và Tịnh. Sức mạnh đó chính là trí tuệ quán chiếu đi đôi với tâm từ, là thần chú biến hóa làm cho sự đói khát không còn và chỗ ở của chúng sinh luôn luôn được sự an vui, tức là hóa thành Tịnh độ. Xem thế, bữa ngọ trai của chư Tăng Ni trong thiền môn Việt Nam rất đơn giản về mặt hình thức song về nội dung mang một ý nghiã lớn lao, nói lên được lòng từ bi cứu tế... Nguyễn Phước Thắng |